Home / Tin môi trường / Quá trình tiến hóa và tác động của con người vào môi trường

Quá trình tiến hóa và tác động của con người vào môi trường

Điểm sơ bộ trong quá trình tiến hóa của con người, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về lịch sử của con người tác động đến môi trường. khi hình thành nền văn minh, con người có khả năng kiểm soát môi trường, khả năng sử dụng các nguồn lực để sản xuất các nguồn lực khác. Tiếp theo là các tin tức nền văn minh và đô thị hóa (6000 năm trước), mọi người bắt đầu thoái hóa môi trường.

Con người có những đặc điểm về cấu tạo, chức năng và mối quan hệ đặc biệt với môi trường và môi trường sống của con người cũng có nhiều cụ thể, không giống như bất cứ sinh vật khác.

Bộ linh trưởng (Primates)

Một đặc tính quan trọng của các loài linh trưởng đang sống trên cây và phụ thuộc vào các điều kiện của môi trường sống. Cánh tay và chân của họ đã được phát triển để giữ, lấy, thay vì móng vuốt, di chuyển bằng hai chân trước, làm giảm chức năng ngửi, nhưng lại tập trung vào việc hoàn thiện thị giác và thính giác và xúc giác. Sự thay đổi trong các cơ quan cảm giác đã làm cho não-kích thước của chúng, vì vậy chúng tôi luôn luôn có thể quan sát và chăm sóc trẻ em.

Nhất là động vật ăn cỏ và động vật linh trưởng đầu tiên họ có thể quá. Nhưng cũng có những bằng chứng hóa thạch ít nhất là trong kỷ Pliocene đã có một số người thông qua các loài ăn tạp.

tac dong den mt

Việc di chuyển bằng 2 chân, giải phóng 2 chi trước chuyển từ chức năng và sử dụng chúng cho các mục đích khác. Bằng cách hái lượm, người sử dụng vượn rau làm cho một nguồn thực phẩm chính, rất ít tác động đến môi trường.

Người khéo léo – Homo habilis

Kích thước não 600-850cm3 đạt. Được sử dụng để nắm tay nhau, tạo và sử dụng được xây dựng. Nhờ đặc tính này mà họ di chuyển nhanh chóng trong môi trường và tìm thấy nhiều con mồi hơn. Công cụ sử dụng vẫn còn gây tranh cãi.

Trong quá trình tiến hóa, để thích ứng với các điều kiện khí hậu nhiệt đới, cơ thể con người tuyến từng bước hình thành tiết để bốc hơi trên da (còn gọi là mồ hôi). Ngoài ra, nhóm người này sống dưới bóng cây to, thu thập trái cây, các loại hạt và rễ như các thành phần thực phẩm quan trọng.

Trong giai đoạn này, các hình thức kinh tế chính của con người săn bắn – hái lượm. Săn bắt động vật nhỏ như côn trùng, giun, ốc, kỳ nhông, và đôi khi ăn trứng gà. Thích giao du, một vài chục cá nhân hoặc nhiều hơn, nhưng không phải là một đời sống xã hội. Biết sử dụng các cây gai, vận dụng một số công cụ từ xương, răng, sừng, từ đá. Thường ẩn mình dưới lá cây để nghỉ ngơi và quan sát đồng cỏ hoặc vũng nước gần đó. Những âm thanh và mùi được ghi chép chính xác. Họ ghi lại hành vi của các loài động vật khác, nhận ra các mùa và kiến ​​thức của họ được tích lũy. Bằng cách nhìn tốt, họ có thể săn tốt hơn, vì vậy ăn nhiều thịt – góp phần đáng kể vào việc tăng cường hoạt động của não.

Trong cuộc sống dần dần xuất hiện sự phân chia nguyên thủy của lao động như những người đàn ông từng đi săn bắn, cá nhân phụ nữ trong sinh đẻ. Mối quan hệ phức tạp dần dần đòi hỏi sự phát triển ngôn ngữ giao tiếp. Bắt đầu thích ứng với nông nghiệp. Tăng khả năng tác động đến môi trường.

Xem Lap bao cao giam sat moi truong dinh ky

Người đứng thẳng – Homo Erectus

Với lửa, dùng da động vật và nơi cư trú đơn giản như là hang động, H. erectus có thể định cư ở những nơi có khí hậu ôn hòa. Do sự phân hóa nên dần dần hình thành các nhóm người khác nhau như Người hiện đại; Người ở Châu Phi; Người ở Châu Âu; Người ở Úc; Người ở Mỹ.

Tuổi thọ trung bình khoảng 20-25 năm. Sống thành từng nhóm khoảng 30 cá thể. Hoạt động chính là săn bắt nên chinh phục những không gian khá rộng. Họ tấn công tất cả các loài động vật, chủ yếu nhằm vào các con mồi nhỏ và thường dồn con mồi vào bẫy. Nhiều công cụ bằng đá được chế tạo. Sự kiện quan trọng và có ý nghĩa lớn là người H. Erectus đã biết dùng lửacách đây 500.000 năm. Loài H. Erectus và H. Habilis đều thích đi xa, phân tán khá rộng khắp nơi trên thế giới.

Hình thái kinh tế chủ yếu của các tộc người ở thời kỳ đồ đá cũ (Palaeolithic) và thời kỳ đồ đá giữa (Mesolithic) là hình thức săn bắt – hái lượm. Thực chất việc này liên quan đến vấn đề khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là săn bắt vì đòi hỏi công cụ.

Giới hạn quy mô dân số: kết quả quan trọng của lối sống săn bắt – hái lượm là giới hạn quy mô dân số. Hầu hết người đứng thẳng tập hợp thành những nhóm nhỏ khoảng vài trăm cá thể hoặc ít hơn. Điều này dẫn đến nguồn gen và hệ sinh thái phong phú. Dân số quy mô nhỏ nên các bệnh truyền nhiễm dễ lan truyền sang những cá thể còn lại.

Điểm đặc trưng của hình thái săn bắt – hái lượm là chế độ dinh dưỡng nhiều cellulose, thiếu muối ăn. Hậu quả, dẫn tới sự đói.

Trong kết luận ở giai đoạn này, người sử dụng các công cụ phức tạp hơn và biết làm thế nào để sử dụng lửa. Bắt đầu sử dụng động vật cho lương thực và do đó làm tăng tác động đến môi trường.

Người cận đại – Homo Sapiens

Những người H. Erectus điển hình coi như biến mất trong khoảng 200.000 đến 150.000 năm trước đây, nhường chỗ cho người cận đại.

Đời sống xã hội, công cụ và văn hóa: nhóm này sống từng nhóm nhỏ gồm 30-50 cá thể. Các nhóm khác nhau cố tránh những cuộc va chạm, sở hữu lãnh thổ riêng nhờ đất rộng. Giữa các nhóm có ngôn ngữ để giao lưu với nhau, bắt đầu hình thành các “bộ lạc” sơ khai. Họ thường săn bắt và có dự trữ thực phẩm. Việc chế tạo các công cụ đồ đá được thực hiện với nhiều chủng loại khác nhau như dùng để săn bắt, mổ xẻ con mồi hay chế biến thức ăn. Gỗ được sử dụng nhiều hơn để chế tạo công cụ.

Lúc này quá trình đô thị hóa bắt đầu, tạo ra hiện tượng đông dân, đa dạng ngành nghề và phân hóa xã hội.

Tóm lại, nhóm người này vẫn còn lấy thức ăn từ thiên nhiên và mở rộng nguồn thức ăn. Tăng khả năng canh tác bằng hình thức phát triển nông nghiệp. Mở rộng nơi cư trú hình thành những bộ lạc với ngôn ngữ khác nhau, bắt đầu có tín ngưỡng, có lễ mai táng người chết. Điều đó thể hiện họ đã bước đầu có đời sống văn hóa tinh thần.

Người hiện đại – Homo Spaiens Spaiens

Mẫu người Neanderthal cuối cùng được tìm thấy ở Palestine có niên đại cách nay 45.000 năm và người hiện đại xuất hiện và thay thế trong khoảng 40.000-35.000 năm nay. Kim loại đầu tiên được con người khám phá ra và sử dụng là đồng, thiếc, sắt. Tiếp theo là sự tăng dân số ở thời kỳ đồ đá mới và sự di dân. Chăn nuôi phát triển với lừa, ngựa, những đàn gia súc đông đến vạn con trên những thảo nguyên, hình thành lối sống du mục của các bộ lạc chăn nuôi. Có sự sở hữu sắt.

Con người biết chế tạo ra những công cụ bằng kim loại, có thể cầm nắm hỗ trợ cho việc phá rừng để làm nông nghiệp. Hình thức này vẫn còn phổ biến cho tới nay. Trên các công cụ của họ (có niên đại khoảng 20.000 năm trước) đã có dấu hiệu nghệ thuật thẩm mỹ lẫn tính huyền bí và truyền thống. Trồng trọt và chăn nuôi đã có cách nay khoảng 10.000 năm. Từ thời điểm này, nền văn minh của loài người cũng phát triển và hoàn thiện với tốc độ ngày càng nhanh.

Trong sự xuất hiện, phát triển, sự tiến hóa của cuộc sống là luôn luôn gắn liền với môi trường mà nó tồn tại. Không có cuộc sống bên ngoài của môi trường và cũng không có đời sống trong các môi trường mà nó không thích hợp, thích nghi.

Con người có những đặc điểm về cấu tạo, chức năng và mối quan hệ đặc biệt với môi trường và môi trường sống của con người cũng có nhiều cụ thể, không giống như bất cứ sinh vật khác.

Ngoài ra đối với môi trường tự nhiên và thay đổi tương tác với con người vốn có cũng như môi trường xã hội tự do con người con người tạo ra và chỉ có môi trường này. Động vật có quan hệ bầy đàn cao nhất như những con ong, con kiến ​​hay động vật có vú khác.

Sinh thái học của các hệ sinh thái của con người và động vật khác nhau từ tiếp cận hệ sinh thái đặc biệt cho mọi người, với sự chủ động để thích ứng với môi trường

Xem thêm Giải pháp công nghệ bảo vệ môi trường có tính khả thi

About quynhpt

Xem tiếp

thai

Bất ngờ với phát hiện trong nước thải ở Thụy Sĩ

Các nhà khoa học Thụy Sĩ vừa ước tính khoảng 43 kg vàng có trong …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *